Sau “hóa đơn điện tử” được các Cục và Chi cục Thuế các Tỉnh / Thành khuyến khích sử dụng thì “Hợp đồng điện tử”, “văn bản điện tử” đang trở thành tâm điểm chú ý vì đang được Bộ Công Thương thí điểm sử dụng cho các Doanh Nghiệp.

Những hợp đồng ký kết bằng giấy tờ sẽ được thực hiện bằng văn bản và chữ kí trên điện tử. Hiện nay, các công ty sử dụng Hợp đồng điện tử tại Việt Nam đang ngày một tăng lên.

Sau đây, chúng tôi tổng hợp các câu hỏi về Hợp đồng điện tử thường gặp:

3. Điểm khác biệt của Hợp đồng điện tử

Ngoài hai bên chủ thể, người mua và người bán thì trong hợp đồng điện tử còn có một chủ thể cũng không kém phần quan trọng là các nhà cung cấp dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực chữ ký điện tử.

Trong nội dung hợp đồng, ngoài các địa chỉ pháp lý thông thường, hợp đồng điện tử còn có địa chỉ e-mail, địa chỉ website, địa chỉ xác định nơi và ngày giờ gửi fax.

Đặc biệt, các bên sẽ không mất thời gian gặp gỡ trao đổi và ký tay mà thực hiện giao kết trên các phương tiện điện tử và hợp đồng sẽ được ký bằng chữ ký điện tử.

2. Giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử

Theo Điều 34 Luật Giao dịch điện tử, giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử không thể bị phủ nhận chỉ vì hợp đồng đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu. Điều 14 Luật này cũng quy định: Thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị dùng làm chứng cứ chỉ vì đó là một thông điệp dữ liệu. Giá trị chứng cứ của thông điệp dữ liệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.

Như vậy, pháp luật đã ghi nhận tính pháp lý của hợp đồng điện tử và được sử dụng làm chứng cứ trong trường hợp một trong hai bên không thực hiện hợp đồng hoặc vi phạm điều khoản của hợp đồng nhưng phải đảm bảo rằng:

– Nội dung của hợp đồng điện tử được bảo đảm toàn vẹn kể từ khi được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng thông điệp hoàn chỉnh. Nghĩa là thông điệp đó trong hợp đồng điện tử chưa bị thay đổi, trừ những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dữ liệu.

– Nội dung của thông điệp dữ liệu trong hợp đồng điện tử có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết nghĩa là thông điệp dữ liệu có thể mở được, đọc được, xem được bằng phương pháp mã hoá hợp pháp đảm bảo độ tin cậy mà các bên thoả thuận với nhau.

1. Sự giống nhau, khác nhau giữa hợp đồng điện tử với hợp đồng truyền thống

Theo Luật Giao dịch điện tử thì hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu (Điều 33). Thông điệp dữ liệu được hiểu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử (khoản 12 Điều 4).

Hợp đồng điện tử có những điểm giống với hợp đồng truyền thống, đó là sự thống nhất ý chí giữa các bên và khi giao kết hay thực hiện đều phải tuân theo các chuẩn mực về hình thức của hợp đồng, chủ thể của hợp đồng, điều kiện hiệu lực của hợp đồng, chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh chấp phát sinh.

Bên cạnh những điểm chung cơ bản nêu trên, hợp đồng điện tử có nhiều điểm khác biệt với hợp đồng truyền thống, đáng chú ý là:

– Ngoài các chủ thể tham gia trực tiếp vào giao kết hợp đồng là bên mua và bên bán, hợp đồng điện tử còn có bên thứ ba có liên quan chặt chẽ đến hợp đồng điện tử là nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực chữ ký điện tử. Bên thứ ba này có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ thông tin giữa các bên tham gia giao dịch điện tử, đồng thời họ cũng có thể đóng vai trò trong việc xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch điện tử.

– Ngoài các địa chỉ pháp lý thông thường, hợp đồng điện tử còn có địa chỉ email, địa chỉ website, địa chỉ xác định nơi, ngày giờ gửi thông điệp dữ liệu.

– Về quy trình giao kết hợp đồng điện tử: Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa hợp đồng điện tử với hợp đồng truyền thống. Hợp đồng truyền thống, giao kết bằng việc các bên gặp trực tiếp, trao đổi với nhau và ký bằng chữ ký tay. Còn hợp đồng điện tử, giao kết bằng phương tiện điện tử và ký bằng chữ ký điện tử. Hai phương thức giao kế hoàn toàn khác nhau làm phát sinh những điểm khác biệt lớn liên quan đến quy trình giao kết.


Các văn bản pháp luật liên quan

  • Luật mẫu về Thương mại điện tử UNCITRAL năm 1996;

  • Bộ luật Dân sự 2015;

  • Luật Thương mại 2005;

  • Luật Giao dịch điện tử 2005;

  • Nghị định số 52/2013/NĐ-CP Về Thương mại điện tử.