Theo Luật Giao dịch điện tử thì hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu (Điều 33). Thông điệp dữ liệu được hiểu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử (khoản 12 Điều 4).

Hợp đồng điện tử có những điểm giống với hợp đồng truyền thống, đó là sự thống nhất ý chí giữa các bên và khi giao kết hay thực hiện đều phải tuân theo các chuẩn mực về hình thức của hợp đồng, chủ thể của hợp đồng, điều kiện hiệu lực của hợp đồng, chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh chấp phát sinh.

Bên cạnh những điểm chung cơ bản nêu trên, hợp đồng điện tử có nhiều điểm khác biệt với hợp đồng truyền thống, đáng chú ý là:

– Ngoài các chủ thể tham gia trực tiếp vào giao kết hợp đồng là bên mua và bên bán, hợp đồng điện tử còn có bên thứ ba có liên quan chặt chẽ đến hợp đồng điện tử là nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực chữ ký điện tử. Bên thứ ba này có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ thông tin giữa các bên tham gia giao dịch điện tử, đồng thời họ cũng có thể đóng vai trò trong việc xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch điện tử.

– Ngoài các địa chỉ pháp lý thông thường, hợp đồng điện tử còn có địa chỉ email, địa chỉ website, địa chỉ xác định nơi, ngày giờ gửi thông điệp dữ liệu.

– Về quy trình giao kết hợp đồng điện tử: Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa hợp đồng điện tử với hợp đồng truyền thống. Hợp đồng truyền thống, giao kết bằng việc các bên gặp trực tiếp, trao đổi với nhau và ký bằng chữ ký tay. Còn hợp đồng điện tử, giao kết bằng phương tiện điện tử và ký bằng chữ ký điện tử. Hai phương thức giao kế hoàn toàn khác nhau làm phát sinh những điểm khác biệt lớn liên quan đến quy trình giao kết.